Vì sao doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả?

Một số công trình kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước.

Dư luận bàn khá nhiều về sự kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước ở ta. Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước vừa qua cho thấy doanh nghiệp Nhà nước rất kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ kéo dài, 4/19 đơn vị được kiểm toán kinh doanh thua lỗ trong năm 2004; 11/19 đơn vị có lỗ lũy kế với tổng lỗ luỹ kế đến hết 2004 là 1.058 tỉ đồng.
 
Tỉ suất lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp được kiểm toán rất thấp (từ 0,18% đến 0,8%) trong đó có các tập đoàn có vẻ rất mạnh như Công nghiệp tàu thuỷ 0,42%, Dệt may 0,8%…

Báo cáo các năm trước cũng đã cho thấy tình hình tương tự, có tổng công ty đã hoàn toàn mất hết vốn mà vẫn không trả được các khoản nợ như Seaprodex, con át chủ bài thuỷ sản một thời. Toà án tỉnh Lâm Đồng vừa tuyên bố 5 thành viên của Tổng công ty Dâu Tơ Tằm Việt Nam phá sản.

Vì sao các doanh nghiệp Nhà nước ở ta lại kém hiệu quả đến vậy? Có nhiều nguyên nhân, ở đây chỉ nêu vài nguyên nhân chính.

Thứ nhất, người ta thường nghĩ khuyến khích chủ sở hữu là yếu, nên chủ sở hữu không có các biện pháp hữu hiệu để cai quản. Ai cũng biết một chủ tư nhân mang tiền riêng đi kinh doanh quan tâm sống còn đến vốn của mình, vì nó là của họ, họ có quyền định đoạt, sử dụng, quản lý và hưởng lợi (hay chịu lỗ).

Đây là khuyến khích cực kỳ mạnh. Khi quyền sở hữu và quyền quản lý tách nhau ra, thì ở mức độ nhất định khuyến khích đó yếu đi. Khuyến khích của những người chung vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn yếu hơn của chủ công ty tư nhân. Khuyến khích của các cổ đông nhỏ trong một công ty cổ phần yếu hơn của các cổ đông lớn, và yếu hơn của các chủ công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty tư nhân. Khuyến khích của các công dân (chủ cuối cùng) đối với doanh nghiệp Nhà nước là yếu nhất, họ thường coi nó là “của chùa”.

Lẽ ra Nhà nước không nên quá nhấn mạnh tính “toàn dân” của doanh nghiệp Nhà nước, mà nên thực sự coi nó là của mình, của tổ chức nhà nước. Song trong mọi trường hợp khuyến khích của chủ sở hữu là không mạnh như của tư nhân.

Khuyến khích này của Nhà nước lại chỉ phát huy tác dụng ở nơi có luật pháp rõ ràng, có cạnh tranh lành mạnh, người quản lý có năng lực, ràng buộc ngân sách cứng, và nhìn tổng thể tất cả các doanh nghiệp quốc doanh chỉ chiếm phần nhỏ (thí dụ dưới 15% của nền kinh tế).

Đang có các nỗ lực theo hướng đó, nhưng hiện nay chắc chắn các điều kiện này vẫn chưa tốt, vì thế Nhà nước nên bán các doanh nghiệp của mình với giá hợp lý để tăng tính hiệu quả của nền kinh tế và như thế là tăng sức cạnh tranh của quốc gia.

Thứ hai, ràng buộc ngân sách của các doanh nghiệp Nhà nước là mềm. Nhà nước vẫn ứng xử theo cách ưu ái, không buộc doanh nghiệp Nhà nước vào kỷ luật tài chính nghiêm ngặt. Giới hạn ngân sách là toàn bộ số tiền riêng hay tài sản riêng có thể đảm bảo cho các khoản vay mà doanh nghiệp (hay hộ gia đình) phải lo liệu trong phạm vi đó.

Ràng buộc ngân sách mềm khi hoàn cảnh bên ngoài khiến doanh nghiệp nghĩ là giới hạn đó không cứng, có thể vượt qua mà không bị trừng phạt thực sự. Không được để cho ràng buộc ngân sách trở nên mềm bằng các biện pháp ưu tiên, bao cấp, miễn thuế, tín dụng dễ dãi, hay dung thứ việc chây ỳ thuế, dây dưa trả nợ.

Phải để doanh nghiệp Nhà nước hiểu rõ: phải tự lo, và nếu lỗ liên miên thì phải phá sản, sẽ không ai đứng ra cứu. Các doanh nghiệp tư nhân hiển nhiên có ràng buộc ngân sách cứng. Các khoản nợ thuế, nợ Nhà nước, nợ lẫn nhau khổng lồ đã buộc Nhà nước phải đưa ra các biện pháp hoãn nợ, khoanh nợ trong thời gian qua, các khoản vay ưu đãi khổng lồ là những biểu hiện rành rành của ràng buộc ngân sách mềm.

Ràng buộc ngân sách mềm khiến doanh nghiệp không nhạy cảm với lợi nhuận, với tiết kiệm, tăng hiệu suất, và gây ra nhiều tai hại khác. Đây có lẽ là điểm yếu nhất làm cho các doanh nghiệp Nhà nước kém hiệu quả.

Nhiều người nghi ngờ các số liệu kiểm toán. Có thể, nhưng có kiểm toán và công bố công khai là một bước tiến lớn. doanh nghiệp có thể hiệu quả hơn, nhưng các giám đốc muốn giấu bớt lợi nhuận để dễ bề chia chác, để có thể bán doanh nghiệp với giá rẻ hơn, bán dễ hơn khi cổ phần hoá. Đó cũng có thể là các nguyên nhân phải lưu ý tới.

Thứ ba, môi trường cạnh tranh không bình đẳng, quản lý kém. doanh nghiệp Nhà nước vẫn được ưu tiên một cách công khai không giấu giếm, thậm chí việc ấy được coi là quốc sách, trước kia còn có các luật riêng điều tiết chúng. Ràng buộc ngân sách mềm xuất xứ từ đấy.

Tại sao doanh nghiệp Nhà nước Singapore lại khá hiệu quả? Ở đó có môi trường cạnh tranh lành mạnh, doanh nghiệp Nhà nước được đối xử như các doanh nghiệp khác, luật pháp nghiêm minh, đội ngũ quản lý được đào tạo, có trình độ (họ thuê nhiều người nước ngoài điều hành) và tỉ lệ chiếm không cao trong nền kinh tế.

Hiện nay khu vực doanh nghiệp Nhà nước tạo ra 38% GDP, chiếm trên 60% tổng số tín dụng, phần lớn tài nguyên đất đai, khoáng sản của đất nước. Nếu các nguồn vốn và tài nguyên này được giao cho các khu vực khác có hiệu quả hơn sử dụng thì sẽ có lợi hơn nhiều cho quốc gia, góp phần tạo các điều kiện cho doanh nghiệp Nhà nước cũng buộc phải hoạt động một cách có hiệu quả.

Theo Lao động

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s