Dự luật Thuế thu nhập cá nhân đã hợp lý?

Khuyến khích mọi người lao động tự tạo ra thu nhập, không trông chờ, ỷ lại vào người khác.

Ban soạn thảo Luật thuế thu nhập cá nhân vừa hoàn thành Dự thảo luật này, đang tổ chức lấy ý kiến các bộ, ngành và chuẩn bị trình Chính phủ thảo luận và trình Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp cuối năm nay. Dự kiến luật này sẽ được thông qua tại kỳ họp Quốc hội đầu năm 2007 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009.

Sau khi Bộ Tài chính công bố nội dung chính của Dự thảo Luật, có rất nhiều ý kiến xung quanh Biểu thuế lũy tiến từng phần với các mức thuế suất cũng như một số khoản sẽ bổ sung thêm vào diện chịu thuế như: thu nhập từ đầu tư vốn gồm lãi cho vay, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, lãi trái phiếu, tín phiếu, lợi tức cổ phần, lợi tức từ các hình thức góp vốn kinh doanh; thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản…

Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một số ý kiến đánh giá của đại diện Ban soạn thảo Luật, các nhà đầu tư tài chính, ngân hàng thương mại, luật sư… về các vấn đề đang được quan tâm.

Động viên thu nhập dân cư một cách công bằng, hợp lý
Ông Trương Chí Trung, Thứ trưởng Bộ Tài chính

Về cơ bản Dự luật quy định thu nhập chịu thuế trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những quy định hiện hành và bổ sung thêm một số khoản vào diện chịu thuế như: thu nhập từ đầu tư vốn gồm lãi cho vay, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, lãi trái phiếu, tín phiếu, lợi tức cổ phần, lợi tức từ các hình thức góp vốn kinh doanh; thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản…

Để kiểm soát được sự chuyển dịch tài sản, vừa đảm bảo công bằng xã hội, khuyến khích mọi người lao động tự tạo ra thu nhập, không trông chờ, ỷ lại vào người khác, Ban soạn thảo đã đưa thu nhập từ tài sản thừa kế và quà tặng vào diện chịu thuế.

Nhưng để phù hợp với điều kiện thực tế nước ta, dự kiến chỉ đưa vào thu nhập chịu thuế đối với tài sản thừa kế hay quà tặng là cổ phiếu, trái phiếu, quyền sở hữu công ty. Riêng đối với tài sản là nhà, đất chỉ đưa vào diện chịu thuế trong trường hợp người đã có nhà ở nhưng được nhận thêm tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất, nhà.
Đến nay, số người có thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm từ 4 đến 10 triệu đồng/tháng đã tăng lên đáng kể đòi hỏi có sự động viên phù hợp.

Chính vì vậy, Dự luật đã dự kiến thu thuế đối với trường hợp có lãi tiền gửi tiết kiệm vượt trên mức tương ứng với mức giảm trừ gia cảnh cho cá nhân người nộp thuế (4-5 triệu đồng/tháng) để đảm bảo công bằng trong động viên thu nhập của cá nhân.

Như vậy, với mức lãi suất hiện nay, chỉ những người có số tiền gửi tiết kiệm khoảng 700 triệu đồng trở lên mới thuộc diện chịu thuế. Chẳng hạn, với giảm trừ gia cảnh là 4 triệu đồng/tháng, một người có số tiền gửi tiết kiệm đến 600 triệu đồng, lãi khoảng 3,9 triệu đồng/tháng sẽ chưa phải nộp thuế.

Nếu không đánh thuế vào lãi tiền gửi tiết kiệm, những người làm công ăn lương chỉ thu nhập khoảng 6 – 7 triệu/tháng phải đóng thuế, trong khi người gửi tiết kiệm thu được lãi hàng chục triệu hàng tháng chẳng hạn lại không phải đóng thuế thì sẽ mất công bằng. Mà Luật thuế thu nhập cá nhân luôn đòi hỏi tính công bằng cao. Anh đã có thu nhập trên ngưỡng thì anh phải nộp thuế, không thể vì lý do khuyến khích cái nọ hay cái kia mà không phải đóng thuế. Với quan điểm đó, thì việc áp dụng chính sách này là hoàn toàn hợp lý. Các nước trên thế giới họ cũng làm như thế.

Tinh thần của Dự luật là chỉ thu thuế với những khoản tiền gửi cao thôi. Tất nhiên, chính sách này sẽ có sự ảnh hưởng nhất định đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng, đến lãi suất. Thực ra thu nhập từ thừa kế, tiết kiệm chúng tôi đưa vào cũng là để mục đích lấy ý kiến thêm. Trên thực tế các nước vẫn thu thuế những khoản thu nhập này, nếu chúng ta không đưa vào thì cũng không được bởi bản chất của luật là bình đẳng.

Biểu thuế lũy tiến từng phần trong Dự thảo quy định mức khởi điểm chịu thuế là 4 triệu đ/tháng – đối với Hà Nội và Tp.HCM có thể là thấp nhưng nếu tính trung bình cả nước đây cũng là mức khá cao, kể cả vào thời điểm năm 2009. Mức này chúng tôi cũng đã tính cả tốc độ trượt giá từ nay đến thời điểm áp dụng luật.

Luật này nếu thực hiện được là rất tốt, bởi mục tiêu đặt ra là kiểm soát thu nhập của dân cư nên mới hạ thuế suất xuống, mức đánh thuế xuống để nâng cao ý thức của người dân. Số thu sẽ tăng lên khi kinh tế phát triển. Có thể nhìn vào điều kiện hiện nay của Việt Nam thì có ý kiến cho rằng khó thực hiện được luật, tuy nhiên, rất nhiều nước châu Á khi ban hành luật này cũng có xuất phát điểm rất thấp (về thu nhập, điều kiện kinh tế) nhưng nay cũng rất là thành công.

Để thực hiện luật này, thì những người đến tuổi có thu nhập sẽ đều có mã số thuế. Việc tính thuế dựa trên nguyên tắc tự tính, tự khai, tự nộp, ngành thuế sẽ kiểm tra sau. Khi Luật quản lý thuế ra đời, sẽ có quy định về đại lý thuế họ sẽ giúp rất nhiều cho các đối tượng trong việc kê khai, nộp thuế. Xã hội nào cũng vậy không ai có thể hiểu biết hết cả.

Người nước ngoài sẽ nộp thuế nhiều hơn
Luật sư Lê Bá Thành Chung, Công ty luật Russin & Vecchi (Mỹ)

Theo biểu thuế và cách tính được đưa ra tại Dự thảo, phần lớn số người nước ngoài hiện đang nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao sẽ phải chịu mức thuế cao hơn trước.

Cụ thể, với 1 người nước ngoài có thu nhập 50.000 USD/năm (khoảng 800 triệu đồng/năm), theo quy định hiện hành thì mức thuế phải nộp mỗi năm là khoảng 9.000 USD. Song nếu áp dụng biểu thuế được đề xuất trong Dự thảo thì sẽ phải nộp khoảng 11.000 USD/năm, tăng hơn 10%.

Với những người nước ngoài có thu nhập hàng năm dưới 50.000 USD, thì mức chênh lệch giữa hai cách tính sẽ càng lớn. Ví dụ, nếu thu nhập là 40.000 USD/năm thì mức thuế nộp hàng năm sẽ tăng vào khoảng 30%, nếu thu nhập là 30.000 USD/năm thì mức thuế nộp hàng năm tăng khoảng 35%, nếu thu nhập là 12.000 USD/năm thì mức thuế nộp hàng năm tăng khoảng 80%. Với những người nước ngoài có thu nhập hàng năm trên mức 50.000 USD, mức chênh lệch giữa hai cách tính sẽ thu hẹp dần, và số thuế phải nộp theo hai cách tính sẽ bằng nhau với những người có thu nhập 75.000 USD/năm.

Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thu nhập hàng năm dưới mức 75.000 USD, thậm chí dưới 50.000 USD. Do vậy, ảnh hưởng của cách tính thuế mới – nếu Dự thảo như hiện nay được thông qua – tới đối tượng nộp thuế là người nước ngoài sẽ là rất đáng kể.

Nếu chỉ đứng ở góc độ cá nhân người nộp thuế để tính rằng hàng năm phải đóng thêm 1.000 hay 2.000 USD, thì sẽ không thấy hết được tác động thực tế của cách tính mới. Đứng trên góc độ kinh tế – xã hội, hoặc chúng ta sẽ không thu hút được nguồn lao động trình độ cao từ nước ngoài, hoặc người sử dụng lao động – là các doanh nghiệp Việt Nam – sẽ phải gánh chịu khoản chênh lệch của số tiền thuế phải nộp. Do vậy, tăng 10% hay 15% trong tổng số thuế phải nộp sẽ là một vấn đề lớn.

Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp phải tăng quỹ lương, chính là tăng chi phí sản xuất, và hệ quả tất yếu là làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế nói chung.

Đặc biệt, thời điểm Luật thuế thu nhập cá nhân mới dự kiến được áp dụng (2009) cũng chính là giai đoan quyết liệt trong việc thực hiện các cam kết quốc tế, xoá bỏ các rào cản thương mại và các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước.

Đó chính là lúc sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như của cả nền kinh tế Việt Nam là yếu tố quyết định sự thành bại của quá trình hội nhập.

Một vấn đề thực tế khác cần xem xét, đó là tác động của chính sách thuế tới hành vi của người nộp thuế. Từ góc độ luật pháp, mọi chủ thể có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ nộp thuế khi luật được ban hành. Nhưng thực tế trong thời gian vừa qua cho thấy không phải mọi doanh nghiệp đều có ý thức chấp hành như vậy. Với một chính sách thuế nặng nề hơn, theo lô gíc, sẽ càng có nhiều chủ thể tìm cách trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế hoặc chí ít là giảm số thuế phải nộp.

Trong khi đó, những doanh nghiệp làm ăn chân chính, đặc biệt là những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lớn, hiện vẫn tuân thủ tốt chính sách thuế sẽ phải gánh chịu nghĩa vụ thuế cao hơn hiện nay. Kết quả là mục tiêu xây dựng một sân chơi bình đẳng khó có thể đạt được.

Từ những vấn đề trên, tôi cho rằng mục tiêu xây dựng luật là tăng tỷ lệ thu từ thuế thu nhập cá nhân và mở rộng diện chịu thuế đã được thể hiện rất rõ ràng trong Dự thảo. Song yếu tố sức cạnh tranh của nền kinh tế và sự phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội và mặt bằng giá cả của Việt Nam trong thời gian tới cần được tính toán thật kỹ để có được một biểu thuế phù hợp.

Có nhiều điểm khó khả thi
Ông Lê Đắc Sơn, Tổng giám đốc Ngân hàng ngoài quốc doanh – VPBank

Thuế thu nhập liên quan đến lãi tiền gửi tiết kiệm thì đã có nhiều nước áp dụng khá lâu rồi, nhưng đó là những nước có nền kinh tế đã phát triển ở trình độ nhất định. Nếu so sánh với các nước thì rất khó vì Việt Nam có những đặc thù riêng. Nhưng có thể so sánh với những nước xã hội chủ nghĩa trước đây có nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch, tập trung sang nền kinh tế thị trường như một số nước Đông Âu, tương tự như sự chuyển đổi ở Việt Nam. Khi họ chuyển đổi thì họ đã có mức phát triển cao hơn chúng ta khá nhiều.

Với Việt Nam, thuế thu nhập phải vừa công bằng xã hội vừa tạo được nguồn thu chính đáng cho ngân sách và phải có lộ trình phù hợp. Hiện nay, Dự thảo này là sự tận thu hơi quá sớm đối với nền kinh tế còn rất yếu, còn mang nặng tính tự phát. Những năm qua, tăng trưởng phần lớn và mạnh mẽ nhất là khu vực tư nhân mà khu vực này chủ yếu vẫn mang tính tự phát, chưa có được những tập đoàn kinh tế mạnh, chưa có nhiều doanh nghiệp mạnh.

Về mức khởi điểm chịu thuế, dự thảo đưa ra là từ 4-5 triệu đồng/tháng vào năm 2009. Phải tính toán lại vì 4 triệu đồng bây giờ và 4 triệu đồng vào thời điểm đó là bao nhiêu? Sức mua của đồng tiền sẽ khác, nhất là sức mua đó sẽ cân đối lại khi vào WTO. Nếu chỉ căn cứ vào lạm phát thì chưa đủ, mà còn là mức sống của người dân, sức mua của đồng tiền ở thời điểm đó…

Theo tôi dự tính thì giá trị của 4 triệu đồng vào thời điểm năm 2009 sẽ chỉ bằng khoảng 2 triệu đồng bây giờ, và đó là một mức thu nhập trung bình, diện phải đóng thuế sẽ là phổ biến.

Theo Dự luật, khi đánh thuế sẽ có phần giảm trừ gia cảnh. Tôi cho rằng đây lại là đầu mối tạo nên những cơ chế xác minh, xác nhận đầy rắc rối với các loại giấy tờ và qua nhiều loại cửa sau đó.

Vì vậy, nếu đánh thuế thu nhập thì nên xác định một mức thu nhập chịu thuế, đến năm 2009 theo tôi có thể là từ 7 – 8 triệu đồng trở lên để phù hợp với mặt bằng lúc đó, và không giảm trừ gia cảnh. Như thế sẽ thống nhất và đơn giản hơn. Bởi giảm trừ gia cảnh, nghe rất là hay, nhưng triển khai thì rất phức tạp.

Một điểm mới của Dự luật là đánh thuế thu nhập tiền lãi tiết kiệm. Điều này cũng khá phổ biến ở các nước phát triển, nhưng với Việt Nam từ năm 2009 là hơi sớm. Nền kinh tế đang ở mức độ phát triển thấp, mà mục tiêu của chúng ta là khuyến khích tăng trưởng, “khoan sức dân”, khuyến khích người dân tái đầu tư cho xã hội. Mà nguồn vốn của nền kinh tế đang trông vào ngành ngân hàng, có thể là vẫn trông cả chục năm nữa. Nguồn vốn đó chủ yếu là từ người dân gửi vào ngân hàng. Nếu đánh thuế có thể sẽ dẫn đến hai trạng thái.

Một là những người cảm thấy tỷ lệ nộp thuế khiến lãi suất tiết kiệm chưa thỏa đáng thì họ có thể đầu tư vào kênh khác như mua USD, vàng, bất động sản…, những kênh có nhiều rủi ro hơn và nguồn vốn của ngân hàng sẽ khó khăn hơn. Ngân hàng thì không thể bỏ nguồn vốn của mình, theo đó có thể sẽ phải tăng thêm lãi suất, lại gây khó cho doanh nghiệp vay vốn đầu ra.

Thứ hai là người dân sẽ tách sổ ra, gửi nhiều ngân hàng, chắc chắn họ sẽ làm. Vậy thì đến cuối năm Bộ Tài chính làm thế nào để soát được những khoản tiền gửi từ 700 triệu đồng trở lên để thu thuế. Phải vào từng ngân hàng, lấy dữ liệu và như thế sẽ rất nhiêu khê, sẽ gặp phản ứng rất dữ dội của các ngân hàng và như thế là phạm luật vì tiết lộ thông tin của các chủ tài khoản. Có những trường hợp, khoản tiền nộp thuế từ lãi đối với họ không đáng kể nhưng họ lại rất ngại bị tiết lộ thông tin, bị dò xét nên có thể họ sẽ không gửi ngân hàng nữa.

Trường hợp thực hiện như Dự thảo đưa ra, ngành thuế và cả ngân hàng phải có một hệ thống công nghệ cực kỳ hiện đại, lọc toàn bộ dữ liệu của hàng chục triệu khách hàng trên toàn quốc vừa đúng, vừa đủ đối tượng phải nộp thuế. Đây là một yêu cầu thực sự khó khăn. Mà nếu đáp ứng được, người ta chia lẻ số tiền gửi nhờ đứng tên thì làm thế nào?

Đó là một trong những câu hỏi đặt ra cho dự luật này, mà để hoàn thiện, theo tôi cần tăng cường công tác học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, các nước có những sự tương đồng với mình.

Luật thuế này phải là công cụ phát triển kinh tế
Ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI)

Theo tôi, Dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân chưa đạt được những yêu cầu cơ bản của Luật thuế thu nhập cá nhân nếu so sánh với thông lệ quốc tế cũng như không đáp ứng được những mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta. Dự thảo còn rất nhiều vấn đề bất cập cơ bản như xác định chưa đúng đối tượng chịu thuế, phương pháp tính thuế không có cơ sở và và không khả thi cũng như thời điểm áp dụng các loại thuế thu nhập cá nhân.

Quan điểm của Ban soạn thảo là bất kỳ hoạt động có doanh thu nào thì đều phải thu thuế mà không tính đến việc thuế là công cụ điều tiết vĩ mô, là đòn bẩy phát triển kinh tế. Nếu tính toán không kỹ sẽ làm giảm sự phát triển của doanh nghiệp. Không khéo khi đưa Luật thuế thu nhập cá nhân vào áp dụng còn làm giảm nguồn thu ngân sách, không những không khuyến khích luồng vốn vào phát triển sản xuất kinh doanh, mà còn làm tăng chi phí huy động vốn của các doanh nghiệp và dẫn đến nguy cơ bùng phát cơn sốt bất động sản thứ ba do tiền chảy hết vào bất động sản, dẫn đến nguy cơ khủng hoảng nền kinh tế là rất cao.

Tại sao tôi nói như vậy? Tôi chỉ cần phân tích sơ bộ về thuế thu nhập cá nhân trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán và tiền gửi ngân hàng để đánh giá sơ bộ về tác động của Dự luật.

Dự thảo qui định thu 25% thuế từ chênh lệch bất động sản, nếu vậy đối tượng tính thuế sẽ gồm cả người giàu, người nghèo và người không kinh doanh bất động sản. Đối với người không giàu và là những người không kinh doanh bất động sản thì mức thuế suất 25% là quá cao.

Mặt khác nếu căn cứ vào chênh lệch mua bán bất động sản để tính thuế thì sẽ không khả thi bởi vì không có căn cứ chính xác để Nhà nước kiểm soát giá mua bán nhà trong từng thời điểm và như vậy sẽ dẫn tới việc một số người trốn thuế, việc thực hiện nghĩa vụ thuế không công bằng cũng như chính sách bất hợp lý sẽ dẫn tới tính trạng phổ biến trốn thuế dưới nhiều hình thức, như vậy là luật sẽ không có tác dụng trong cuộc sống và ngược lại thuế thu nhập cá nhân chưa trở thành một công cụ để chống đầu cơ, để kiểm soát giá đất.

Chúng ta đã có 2 cơn sốt bất động sản từ năm 1990-1992, 2000-2004 dẫn tới tình trạng giá đất quá đắt và gây rất nhiều khó khăn trong phát triển đô thị, phát triển giao thông và phát triển doanh nghiệp. Đến tận bây giờ chúng ta cũng chưa có một công cụ kiểm soát giá đất hữu hiệu – như thông lệ thế giới thì công cụ này chính là đánh thuế sử dụng đất đối với những người giầu sở hữu nhiều đất. Đây chính là một nội dung quan trọng mà Dự thảo thuế thu nhập cá nhân cần phải đưa vào.

Về hoạt động kinh doanh chứng khoán, việc tính thuế 25% đối với những giao dịch mua bán có lãi là cực kỳ bất hợp lý, không theo thông lệ quốc tế và có thể nói là cao nhất thế giới. Phương pháp tính không hợp lý ở chỗ không tính tới những giao dịch lỗ, những giao dịch OTC, không xem xét về dự phòng giảm giá chứng khoán, về chi phí kinh doanh chứng khoán cũng như càng không tính tới việc hiện đã thu hút được tỷ lệ % dân số chơi chứng khoán?

Ở các nước phát triển, thuế thu nhập chứng khoán đúng nghĩa (Capital Gain Tax) chỉ ở mức 5% – 10%, Các nước khu vực như Thái Lan, Indonesia trước khủng hoảng tài chính năm 1997, thuế Capital Gain Tax ở mức 3%, sau khi xảy ra khủng hoảng tài chính vầ cho tới nay, để nhanh chóng phục hồi kinh tế và phát triển hơn nữa thị trường chứng khoán, các nước này đã tạm thời bãi bỏ thuế thu nhập chứng khoán cho nhà đầu tư cá nhân.

Trong những năm qua tuy chưa có thuế trực tiếp đánh vào chứng khoán đối với nhà đầu tư cá nhân nhưng trên thực tế các nhà đầu tư cá nhân đã gián tiếp chịu thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cao, nói như vậy bởi vì hầu hết doanh nghiệp tư nhân Việt Nam là thuộc sở hữu của nhà đầu tư cá nhân.

Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành là 28%, trên thực tế phải là 35-41% do có rất nhiều khoản chi phí lớn không được đưa vào chi phí để tính thuế như các khoản tiền thưởng cho người lao động, thù lao của hội đồng quản trị và ban kiểm soát, chi phí quảng cáo vượt 10%, cho công tác xã hội…

Nói như vậy để khi tính toán việc áp dụng thuế thu nhập chứng khoán trong tương lai thì cũng cần phải nhanh chóng sửa đổi hoàn thiện về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay. Theo quan điểm của tôi thì trong giai đoạn 10 năm nữa chưa áp dụng thuế thu nhập chứng khoán cho cá nhân, mà chỉ nên từng bước áp dụng thuế cổ tức ở những mức thuế xuất hợp lý tuỳ thuộc vào tình hình phát triển thị trường chứng khoán cũng như tiến độ cải cách thuế thu nhập doanh nghiệp.

Về thuế đối với tiền gửi ngân hàng. Việc áp thuế cần phải tính toán đến tốc độ lạm phát, sự biến động của tỷ giá đồng Việt Nam so với ngoại tệ mạnh và mặt bằng lãi suất huy động.

Trong mấy năm qua lạm phát đang duy trì ở mức cao (năm nay là 6,5%), lãi suất cho vay cũng tăng lên rất nhiều và đa phần các doanh nghiệp phải chịu lãi vay từ 12%-14%. Lãi suất cho vay và huy động tăng cao đòi hỏi cần phải có nhiều giải pháp vĩ mô để đẩy mặt bằng lãi suất xuống, tuy nhiên nếu áp dụng thuế tiền gửi ngân hàng thì chẳng khác gì đổ dầu vào lửa sẽ dẫn tới tình trạng giá thành của doanh nghiệp tăng, tốc độ phát triển chậm, tổng thu về thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế GTGT sẽ giảm. Vì vậy việc áp dụng thuế tiền gửi tiết kiệm chỉ nên xem xét khi tốc độ lạm phát đã giảm xuống dưới 4%.

Từ những phân tích trên có thể nhận xét rằng Dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân cản trở những dòng vốn mạo hiểm chảy vào thị trường chứng khoán, không khuyến khích gửi tiền tiết kiệm trong tình hình mặt bằng lãi suất của chúng ta còn cao, như vậy dòng vốn nhàn rỗi chảy vào khu vực sản xuất bị ngăn cản và hạn chế, vậy thì dòng vốn này sẽ đi đâu?

Đối với những người không thích mạo hiểm, không biết kinh doanh thì họ sẽ đầu tư vào vàng, vào Đôla và như vậy sẽ dãn tới tình trạng “Đôla hoá” có đất phát triển. Còn đối với những người biết kinh doanh họ sẽ đầu cơ vào bất động sản, bởi vì họ có nhiều cách để lách luật, để không đóng thuế hoặc giảm đi nhiều lần số thuế phải đóng và nếu cơn sốt bất động sản thứ ba bùng phát thì sẽ dẫn tới nguy cơ kinh tế chậm tăng trưởng và suy thoái.

Nhóm phóng viên thực hiện

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s