DN sẽ phải trả lương theo thị trường: Động lực hay áp lực?

Bộ LĐ-TB-XH dự tính thời điểm bắt đầu thực hiện chính sách một mức lương tối thiểu chung áp dụng cho mọi loại hình DN vào năm 2010. Mức lương tối thiểu trong nước sẽ được điều chỉnh hằng năm để “đuổi kịp” khu vực FDI. Tuy nhiên, điều này sẽ ảnh hưởng thế nào tới DN?

Cái khó…

Nhiều DN phải trả mức lương cao hơn giá trị thực để tuyển được lao động có trình độBất cứ DN nào bỏ chi phí để mua sức lao động đều phải tính đến hiệu quả và giá trị mà lao động đó mang lại. VN có một thị trường lao động rộng lớn từ hơn 80 triệu dân, tỷ lệ thất nghiệp thấp (dưới 6%) nhưng lại đang “thiếu trầm trọng những “sản phẩm lao động” thực sự cho tất cả các loại hình lao động”. Một điều tra từ 2.700 DN đang hoạt động trên địa bàn TP HCM cho thấy các DN đều gặp những khó khăn khác nhau như vốn, phát triển thương hiệu… Tuy nhiên, có một khó khăn chung nhất mà DN nào cũng phải đương đầu đó là “khủng hoảng về nhân lực”. Báo cáo Kinh doanh của Nhóm tư vấn các nhà tài trợ tại VN vào tháng 12/2005 đã đưa ra cảnh báo tình trạng luân chuyển quá mức những lao động có trình độ trong các DN.

Một nghiên cứu gần đây về FDI của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho thấy trong khoảng thời gian từ năm 2001 – 2003, mức luân chuyển lao động giữa các Cty nước ngoài lên đến tỷ lệ… 43%. Mức åcao nhất là các ngành dệt may và da giày. Trong số những việc làm hay thay đổi này, 42% đòi hỏi tay nghề. Sự thiếu hụt lao động có kỹ năng đã dẫn đến một thực tế là DN phải trả mức lương cao hơn giá trị thực để có thể tuyển được lao động có trình độ. Và điều này sẽ dẫn đến một thực tế là giá mà DN trả cho lao động phổ thông cũng thấp hơn giá trị thực.

Theo số liệu của Bộ KH – ĐT, DN FDI trả lương trung bình cho lao động phổ thông từ 75-80 USD/tháng, kỹ sư là 220 – 250 USD và cán bộ văn phòng là 500 USD. Còn việc tuyển quản lý người VN với mức lương trên 1.000 USD/tháng, còn “khó gấp trăm lần” mà không hiệu quả bằng việc tuyển một quản lý nước ngoài với mức lương có thể trên 10.000 USD/tháng. Ngay cả đối với lao động phổ thông thì việc đáp ứng tiêu chuẩn về đạo đức và ý thức kỷ luật cũng là… vấn đề. “Giá lao động phổ thông của VN là thấp chứ không rẻ. Đặc biệt, lao động chất xám ở VN đang thiếu trầm trọng tới mức khủng hoảng” – Giám đốc một DN nhận xét.

Ló cái khôn!

Tuy nhiên, nếu DN xem đợt điều chỉnh LTT như một “cơn địa chấn” thử sức mạnh của mình trước khi bước vào sân chơi lớn wTO thì chính DN sẽ biến áp lực tăng lương trở thành động lực để nâng cao sức cạnh tranh. Bởi tăng LTT được xem là có nhiều ưu điểm. Thứ nhất, người lao động sẽ yên tâm hơn khi có được đồng lương ổn định và đương nhiên khi đó khả năng “nhảy việc” sẽ ít đi rất nhiều. Ngoài ra, cùng với việc điều chỉnh mức tối thiểu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng sẽ bổ sung quy định mức lương bậc 1 áp dụng đối với lao động có chuyên môn, kỹ thuật đã qua đào tạo phải cao hơn mức lương tối – thiểu ít nhất 7%. Thứ hai, trong khu vực DN, bước đầu đã quy định mức LTT phù hợp tính chất và khả năng của từng loại hình DN, trong đó: Đối với Cty nhà nước, hình thành cơ chế áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm so với mức LTT chung, tạo điều kiện cho các DN thực hiện tính đúng, tính đủ chi phí tiền lương theo cơ chế thị trường, gắn tăng tiền lương với tăng năng suất LĐ, hiệu quả sản xuất, kinh doanh; Đối với DN có vốn ĐTNN, hình thành được mức LTT vùng, bảo đảm nhu cầu tối thiểu cho NLĐ và phù hợp với chênh lệch giá cả sinh hoạt, chi tiêu, mức sống dân cư giữa các vùng.

Tất cả những điều đó cho thấy, áp lực hay động lực trong việc tăng lương là do chính thái độ của DN!

Mức LTT dự kiến điều chỉnh vào ngày 1/10/2006 sẽ đảm bảo bù đủ trượt giá của năm 2006 cộng với tỷ lệ phần trăm đảm bảo đời sống người làm công ăn lương được cải thiện. Mức lương tối thiểu này dự kiến sẽ ở mức từ 400.000 – 450.000 đồng/tháng.

Mức lương tối thiểu (LTT) chung được xác định từ 4 phương pháp (theo Đề án cải cách chính sách tiền lương) là:

* Tính từ mức sống tối thiểu theo nhu cầu của một người lao động (NLĐ) làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường.

* Từ điều tra tiền lương, tiền công trên thị trường LĐ của một LĐ không có chuyên môn, kỹ thuật, làm công việc giản đơn nhất (chú ý đến DNNVV).

* Tính đến khả năng nền kinh tế (GDP) và quỹ tiêu dùng cá nhân dân cư; và tiếp cận từ trượt giá sinh hoạt.

l Phương pháp tiếp cận từ điều tra tiền lương, tiền công trên thị trường LĐ là phương pháp chính. Chủ yếu, lấy DN dân doanh làm cơ sở để xem khả năng họ chịu được bao nhiêu. Ba phương pháp còn lại dùng bổ trợ để Chính phủ xem xét khi quyết định mức LTT chung.

Ý kiến

Nguyễn Anh Hiếu – GĐ phát triển kinh doanh Cty cổ phần Quản lý và Truyền thông HHC:

Lời giải hiệu quả cho bài toán năng lực cạnh tranh

Mức LTT này đối với khu vực nhà nước có thể còn khiêm tốn, tuy nhiên nếu so với tỷ lệ tăng lương trong vòng 10 năm vừa qua, đó là tỷ lệ không nhỏ. Con số này ghi nhận nỗ lực của Nhà nước trong việc cải thiện mức lương cho cán bộ nhân viên chức. Tôi hi vọng rằng việc tăng lương này sẽ đi kèm theo các biện pháp vĩ mô nhằm tiết giảm bộ máy hành chính. Tuy nhiên, rõ ràng đây là một thách thức đối với nhiều DN VN, kể cả những DN lớn và DN nhỏ. Việc tăng chi phí đầu vào như tăng lương, thứ nhất sẽ tăng sức ép về nguồn thu, để có thể đảm bảo tính cạnh tranh, các DN cần giải được bài toán về quản lý chi phí, rủi ro, tiếp cận thị trường, xác định chiến lược dài hạn. Đây quả là một bài toán khó vì thực hiện đồng bộ không dễ dàng gì, nhất là trong điều kiện nhân lực quản lý còn hạn chế như ở VN. Theo tôi, yếu tố hàng đầu các DN nên ưu tiên đầu tư chính là nhân tố con người. Con người cần nắm bắt được cơ hội, có đủ năng lực trình độ tiếp cận với những thông tin mới về thị trường, có đủ năng lực để điều hành DN của mình. Bộ máy của DN cần vận hành tốt từ cấp lãnh đạo đến nhân viên, cần tránh những cách làm việc quan liêu như trước đây.

Ở phương Tây từ lâu đã có khái niệm về “leadership” – người lãnh đạo trong quản lý, quản trị DN, chúng ta cũng cần học tập điều đó trong mỗi cán bộ của DN. Leadership ở đây không chỉ được thực hiện bởi các nhà quản lý, giám đốc DN mà còn ở các cấp độ thấp hơn như trưởng phòng, nhân viên… Có lẽ đó sẽ là một lời giải đáp hiệu quả cho bài toán năng lực cạnh tranh. Một bộ máy kinh tế tinh giảm, hiệu quả thì cuối cùng sẽ giảm chi phí đầu vào và tăng tính hiệu quả cho DN. Về khía cạnh lương, việc tăng lương trong các DN trong tương lai cũng có thể dựa trên các chuẩn mực của thị trường lao động để tạo động lực cho các nhân tài. Sau yếu tố con người thì có lẽ là các yếu tố tiêt kiệm, cắt giảm chi phí tối đa và tối ưu hoá các cơ hội kinh doanh thông qua việc quản lý thông tin, về kinh doanh về khách hàng, mục đích là để cập nhật liên tục biến động của thị trường, quản lý rủi ro, thậm chí biến các rủi ro hay biến động đó thành cơ hội.

Nguyễn Thị Tuyết Minh – Phó Trưởng Ban văn phòng Giới chủ sử dụng LĐ của VCCI:

Tăng lương lần này sẽ không kéo theo tăng giá

Mức LTT được tính căn cứ vào cung – cầu và khả năng chi trả của người sử dụng LĐ, đồng thời yếu tố quan trọng nhất là phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho NLĐ. Chắc chắn rằng, chúng ta sẽ phải tính toán kỹ lưỡng để đưa ra con số phù hợp. Thực ra, mức độ tăng lương lần này đã tính đến tỷ số tăng giáá.

Việt Nam hiện nay có 200.000 DN, chưa kể 2,5 triệu hộ kinh doanh gia đình, mà DNNVV theo điều tra của VCCI có thể chiếm tới 96%, vì vậy mức LTT để tiến tới lộ trình LTT chung đến năm 2008 hay 2010, hoặc năm 2012, đang là bài toán mà chúng ta cần phải tính toán. Để tiến tới lộ trình thống nhất mà chúng ta dừng lại mức LTT của khối DN nước ngoài và tăng từ từ LTT của khối DN tư nhân. Nếu chúng ta gây đột biến DNNVV là điều không thể xảy ra, vì DNNVV tăng với tăng tốc độ như vậy là khó.

Mặt khác, đi kèm theo cần có những chính sách khuyến khích phát triển DNNVV mới có thể đáp ứng được lộ trình một mức lương. Tôi có đề xuất là chúng ta nên dành ra một thời gian để tham khảo ý kiến của người sử dụng LĐ, để chúng tôi tổ chức những buổi đối thoại với giới chủ tập hợp ý kiến ở các tỉnh thành để đề xuất với Chính phủ, như vậy sẽ khách quan hơn.

Bùi Quốc Sơn – Chuyên viên Ban Tổ chức nhân sự PetroVietnam:

Phân phối lương mới quan trọng

Mức lương của TCty Dầu khí từ lâu đã cao hơn mức sàn, chúng tôi là Cty duy nhất đã áp dụng mức LTT 1.050.000 đ/tháng, nên việc điều chỉnh mức LTT lần này cũng không ảnh hưởng nhiều. Theo tôi, đối với DN trong thời kỳ hội nhập quốc tế, phân phối là quan trọng hơn để cho việc trả lương được công bằng, mới khuyến khích người lao động (NLĐ) nâng cao hiệu quả LĐ hơn. Khó khăn trong phân phối tiền lương chính là đánh giá công việc, mà điều này các DN VN vẫn còn yếu, chưa đánh giá được trình độ NLĐ, vẫn còn mang tính cào bằng nên khi trả lương mang tính bình quân.

Điều chúng tôi kỳ vọng nhất ở chính sách tiền lương không nằm ở LTT mà nằm ở chính sách quản lý tiền lương của Nhà nước đối với DNNN. Hiện giờ, cơ chế Nhà nước gắn tiền lương với năng suất lao động và doanh thu của DN, thực tế thì NLĐ đâu có biết rõ doanh thu của DN. Đó là điểm yếu của cơ chế. Mức lương chung nên căn cứ vào thị trường LĐ, khi phân phối người ta căn cứ vào ba yếu tố: con người, chức danh, thực hiện công việc. DNNN chỉ tính trên yếu tố đầu tiên là con người, nên chưa kích thích được NLĐ.

Nhưng LTT lần này sẽ ảnh hưởng tới một số đơn vị làm ăn kém vì tăng LTT sẽ gây khó khăn về quỹ lương khi tính toán giá thành đặc biệt là DNNVV

Theo SMENET

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s