Đồng lương của nhà giáo

Mặc dù giáo viên cố gắng bươn chải để có thêm thu nhập ngoài nhà trường, nhưng tổng thu nhập hàng tháng của họ không nhiều.

Được hỏi rằng “tổng thu nhập từ tất cả các khoản của thầy/cô hiện có đủ chi tiêu trong cuộc sống gia đình?”, 52% giáo viên trong mẫu điều tra trả lời là “thiếu thốn”, 42% nói là “vừa đủ”, và chỉ có 2% nói là “có dư để tích lũy”.

Kết quả cuộc khảo sát cho biết tổng thu nhập bình quân từ nhà trường của một giáo viên (bao gồm lương chính, phụ cấp và thù lao dạy tăng tiết, phụ đạo…) khoảng từ 1,8-2 triệu đồng/tháng ở An Giang, Vĩnh Long và Trà Vinh, 2,2 triệu ở Daklak, còn ở Tp.HCM thì khoảng 2,48 triệu (xem bảng 1).

So với mức sống trung bình ở địa phương, số giáo viên có mức thu nhập từ nhà trường thấp hơn mức này chiếm tỷ lệ khoảng 15% ở Trà Vinh, 25% ở Vĩnh Long, 40% ở An Giang, 39% ở Daklak, và 39% ở Tp.HCM.

Số giáo viên có thu nhập từ nhà trường chỉ đáp ứng được dưới một nửa chi tiêu ở gia đình mình chiếm 31% ở Trà Vinh, 9% ở Vĩnh Long, 42% ở An Giang, 50% ở Daklak, và lên tới 63% ở Tp.HCM.

Chính vì đồng lương từ nhà trường không đủ sống nên không ít người đã phải dạy thêm và làm thêm việc khác để có thêm thu nhập.

Trong mẫu điều tra, có 30% giáo viên có dạy thêm và làm thêm (trong đó 13% dạy thêm và 18% làm thêm việc khác). Tỷ lệ này cao hơn hết tại Tp.HCM (52% có dạy thêm và làm thêm). Tỷ lệ dạy thêm ở Tp.HCM cũng cao nhất so với các tỉnh trong mẫu điều tra: 44% ở giáo viên cấp tiểu học, 27% cấp trung học cơ sở, và 34% cấp trung học phổ thông có dạy thêm ở nhà hoặc tại nơi khác (chưa kể số giáo viên dạy thêm ngay tại trường của mình).

Hầu hết việc làm thêm đều là những việc không liên quan chút gì với nghề giáo: làm ruộng, trồng mía, trồng hoa màu, nuôi gà, nuôi heo, thợ may, bán bánh mì, phụ bán tạp hóa, bán hàng ở chợ, phụ bán cơm buổi sáng, chạy xe, đánh máy, photocopy, chụp hình, làm nhạc công ở quán cà phê, làm thêm ở nhà hàng vào buổi tối, dạy võ, vẽ tranh, sửa đồ điện gia dụng…

Mặc dù giáo viên cố gắng bươn chải để có thêm thu nhập ngoài nhà trường, nhưng tổng thu nhập hàng tháng của họ cũng không nhiều nhặn gì. Được hỏi rằng “tổng thu nhập từ tất cả các khoản của thầy/cô hiện nay có đủ cho các chi tiêu trong cuộc sống gia đình của thầy/cô?”, 52% giáo viên trong mẫu điều tra trả lời là “thiếu thốn”, 42% nói là “vừa đủ”, và chỉ có 2% nói là “có dư để tích lũy”.

Có đến hai phần ba giáo viên trong mẫu điều tra (66%) trả lời là có đi vay mượn trong năm qua. Tỷ lệ vay mượn này ở các tỉnh lên tới khoảng ba phần tư giáo viên, riêng ở Tp.HCM cũng lên tới 44%.

Chỉ có 4-5% giáo viên ở Trà Vinh và Vĩnh Long có Internet ở nhà, con số này là 8% ở An Giang, 12% ở Daklak, 42% ở Tp.HCM. Số giáo viên đọc báo hàng ngày chiếm 30-36% ở Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang, và 77% ở Tp.HCM.

Trả lời câu hỏi về những nguyện vọng và tâm tư bức xúc nhất, hai phần ba giáo viên trong mẫu điều tra (66%) nêu kiến nghị rằng cần nhanh chóng cải tổ chế độ tiền lương – đây là ý kiến chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các nguyện vọng mà họ nêu ra.

Theo kết quả cuộc khảo sát, nguyện vọng của giáo viên về một mức tiền lương “đủ để lo cho gia đình” tính bình quân trong mẫu điều tra là 3,81 triệu đồng một tháng, cụ thể ở từng tỉnh thành như sau:

Trà Vinh: 3,32; Vĩnh Long: 3,22; An Giang: 3,33; Daklak: 3,99; Tp.HCM: 5,20 (Đơn vị tính: triệu đồng/tháng).

Gần ba phần tư giáo viên trong mẫu điều tra (73%) nói rằng nếu đạt được mức lương kỳ vọng này, có thể loại bỏ được hiện tượng dạy thêm để tăng thu nhập, chỉ có 12% nói là không thể.

Như vậy, tổng thu nhập của giáo viên từ nhà trường là không đủ sống hay chỉ đạt mức tối thiểu đối với khá đông giáo viên.

Hệ thống thang bậc lương chính thức của giáo viên không mang tính công bằng, và không mang tính chất kích thích hay khuyến khích nâng cao trình độ (xem bảng 2), mặc dù theo quy chế thì vẫn có thể tăng bậc lương 3-4 năm một lần, và mặc dù đã được hưởng một số khoản phụ cấp.

Kết quả khảo sát cho biết chỉ có 45% giáo viên trong mẫu điều tra cho là mức thu nhập của mình từ nhà trường “tương xứng” với công sức mà mình đã bỏ ra, 49% cho là “không tương xứng”. Tỷ lệ trả lời “không tương xứng” ở Tp.HCM lên tới 72%, ở Daklak 51%, An Giang 49%, Vĩnh Long 45%, và Trà Vinh 28%.

Xét về mặt nghề nghiệp chuyên môn, tình trạng buộc phải đi dạy thêm, đi làm thêm quả thực là một sự lãng phí xã hội ghê gớm, không phải chỉ lãng phí đối với năng lượng của người giáo viên, mà quan trọng hơn là sự lãng phí lớn lao đối với hiệu quả đáng lý có thể có của ngành giáo dục. Vì còn phải lo chạy vạy cho nồi cơm của gia đình từ những nguồn thu khác ngoài nhà trường, nên không ít giáo viên không còn đâu tâm sức và thời gian tập trung cho lao động chuyên môn của mình và học sinh của mình nữa.

Xét về mặt luân lý xã hội, tình cảnh éo le mang tính chất vừa trói buộc vừa luẩn quẩn này là điều kiện và nguyên nhân dẫn tới nhiều hệ quả đáng buồn mà công luận than phiền lâu nay: nào là ép học thêm, không công bằng khi cho điểm những học sinh không học thêm, nào là nạn “phong bì”, quà cáp lễ tết, cùng đủ mọi dạng tiêu cực từ nhẹ tới nghiêm trọng như mua bằng bán điểm…

Chính tính bất hợp lý trong chế độ tiền lương nói riêng, và chính sách tài chính trong giáo dục nói chung, đã dẫn đến những hệ quả xáo trộn trong đời sống nhà giáo (phải vất vả dạy thêm, làm thêm…), những sự đảo lộn trong mối quan hệ giữa nhà giáo với học sinh, với phụ huynh, cũng như những rối rắm trong việc thu đủ mọi khoản lắt nhắt từ phụ huynh.

Vấn đề đặt ra hoàn toàn không phải là cần có chính sách “ưu tiên” hay “đặc ân” gì với nhà giáo, mà trước hết đây là vấn đề khôi phục sự công bằng đối với lao động của họ. Chỉ khi có chính sách lương bổng thỏa đáng, xứng đáng và mang tính động viên, thì lúc ấy mới có thể nói tới khả năng thu hút những người giỏi vào ngành giáo chức. Có thầy cô giỏi thì mới có học sinh giỏi.

Kinh nghiệm ở những nước như Đức, Nhật Bản hay Hàn Quốc là chính nhờ nhà nước thực sự tôn trọng ngành giáo dục và trả lương cao cho giáo viên (cao hơn cả những người làm việc cho các đại công ty) ngay từ những thời kỳ suy tàn và đói khổ sau năm 1945, mà họ mới có được những vốn liếng học vấn cũng như một tiềm lực xã hội để phát triển kinh tế mạnh mẽ sau này.

Cần quan niệm rằng trả lương cho nhà giáo thực ra chính là đầu tư cho tiền đồ của đất nước.

Bảng 1. Mức thu nhập của giáo viên từ nhà trường

Dưới 1 triệu đồng 1,5%
1 – 1,5 triệu đồng 18,8%
1,5 – 2 triệu đồng 32,8%
2 – 2,5 triệu đồng 25,2%
2,5 – 3 triệu đồng 12,9%
3 – 4 triệu đồng 5,5%
4 triệu đồng trở lên 3,0%


Bảng 2. Lương chính và các loại phụ cấp bình quân của một giáo viên phổ thông, phân theo thâm niên

Thâm niên trong ngành giáo dục

a. Lương chính

b. Phụ cấp c. Dạy tăng tiết, dạy thêm trong trường Tổng thu nhập tại nhà trường
0 – 5 năm 1.062.533 347.317 103.095 1.477.137
6 – 10 năm 1.246.151 481.713 117.885 1.820.863
11 – 15 năm 1.400.985 503.743 227.412 2.120.778
16 – 20 năm 1.579.897 549.141 210.328 2.343.273
21 – 30 năm 1.821.368 540.329 248.297 2.602.890
31 – 40 năm 2.022.796 651.818 264.087 2.954.720
Bình quân 1.421.832 483.334 176.733 2.056.816

Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát tháng 11 và 12/2007.

Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát tháng 11 và 12/2007.

(Theo TBKTSG)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s