Hạ nhiệt giá USD

…Muốn doanh nghiệp và người dân bán ra đô la (chỉ cần một phần trong số khoảng 13,5 tỷ US$ họ găm giữ trong năm 2010 thí đã là quá tốt, thừa sức để ổn định tỷ giá) thì họ phải có lòng tin vào VND.

Muốn tạo lòng tin thì không có cách nào khác là phải làm cho VND trở thành “của quý hiếm”, tức là hạn chế cung tiền (giảm 120 000 tỷ VND M2 như Thống đốc thông báo là rất tốt) hoặc phải để VND “có giá” tức là được trả lãi xuất cao (lãi xuất thực dương phải trên 2% theo như công thức vàng của các NHTƯ).

Các doanh nghiệp muốn có “của quý hiếm” để kinh doanh và trả lương thì phải nhả Đô la ra. Doanh ngiệp nhả đô sẽ tạo ra kỳ vọng tăng giá VND thì dân sẽ chạy theo để đổi đô ra VND gửi tiết kiệm VND ăn lãi xuất cao.

Bên cạnh đó Chính phủ phải giảm Tổng cầu các cấu phần lãng phi như đầu tư công (các đại biểu quốc hội nói lãng phí – và tham nhũng – tới 30%), giảm chi tiêu dùng và nhập khẩu hàng xa sỉ, giảm tín dụng cho các lỗ đen của các doanh nghiệp và tập đoàn nhà nước không hiệu quả như Vinashin.

Chỉ cần như vậy là đủ để giảm nhập khẩu và nhập siêu 3 – 4 tỷ đô như tính toán của Thống đốc, sẽ hỗ trợ rất mạnh cho tỷ giá và cũng chính là tạo lòng tin vào VND.

Có ai đó lo sợ sẽ giảm tăng trưởng, thì xin nói rằng, có đồng tiền ổn định, có kinh tế vĩ mô ổn định thì lạm phát thấp sẽ là cơ sở quan trọng nhất để giảm lãi xuất và mới có tăng trưởng bền vững. Đây mới là kế sách bền lâu phát triển kinh tế cho đất nước ta….

Nthai (theo comment trong bài viết trên báo Vneconomy.vn 23/02/2011)

Advertisements

Đổ xô mua hàng trên mạng cuối năm

Những ngày đầu tháng 12, nhiều trang web mua bán có lượt truy cập tăng hơn 30% so với bình thường. Số lượng thành viên mới tại các site này cũng lên đột biến đến 20% nhân thời điểm đón Noel cũng như Tết dương lịch.

Với khoảng 1,5 triệu pageview (số trang được người xem click vào) một ngày, anh Lưu Thanh Phương, quản trị của trang mua bán 5giay.vn cho biết: “Lượng khách viếng thăm 5giay đã tăng lên khá nhiều trong khoảng hai tháng trở lại đây. Riêng số lượng thành viên mới tăng đột biến đến 20% tháng vừa rồi trong khi con số này bình thường là 10%”.

5giay.vn là một diễn đàn mua bán trực tuyến sôi động tại khu vực các tỉnh miền Nam. Hiện trang này đã có hơn 180.000 thành viên với số lượng bài viết tương đương 9 triệu. Trong khi cùng kỳ năm ngoái tổng số người tham gia mua bán tại đây chỉ ngấp nghé 40.000.

Tình hình cũng diễn ra tương tự tại trang vatgia.com, chuyên cung cấp thông tin và mua bán rất nhiều loại sản phẩm. Đặc điểm thể hiện rõ sự so sánh giá cả cùng một sản phẩm ở nhiều cửa hàng đã khiến site này thu hút khá nhiều người tiêu dùng. Anh Nguyễn Ngọc Điệp, đại diện đơn vị chủ quyền website này, cho biết: “Lượt truy cập mỗi ngày tăng gần 30% so với tháng trước, đạt xấp xỉ 210.000 và bình quân cũng có khoảng 1.000 thành viên mới đăng ký trong một ngày”.

Tiếp tục đọc

Một chút lãng mạn giữa thương trường

Max Havelaar

Bài viết của tác giả Nguyễn Nghị – Max Havelaar *

Người ta thường ví thương trường với chiến trường. Mà chiến trường thì chẳng phải là nơi để mơ mộng.

Tuy nhiên, ngày nay, người ta lại cũng được chứng kiến những nỗ lực ngày càng rõ nét nhằm thực hiện giấc mơ về một thương trường không có tiếng súng, không giới tuyến ta-địch và như vậy sẽ không có cái logic ta không diệt địch thì địch sẽ diệt ta.

Max Havelaar *

Năm 1985, tại một quán cà phê ở nhà ga Utrecht (Hà Lan), hai người Hà Lan, Nico Roozen và Frans van der Hoff, một người hoạt động nơi những người tiêu thụ cà phê ở Hà Lan, một người sản xuất cà phê với các thổ dân tại một vùng hẻo lánh ở Mexico, chưa hề quen biết nhau cho tới lúc tình cờ gặp nhau.

Cuộc gặp gỡ không được chuẩn bị trước này là điểm khởi đầu cho một công trình có tầm vóc quốc tế, chắc chắn không phải vì tác dụng gây phấn chấn và làm đầu óc tỉnh táo của những giọt cà phê, mà là vì những ưu tư của những con người hoạt động trong các môi trường xã hội – vào cái thời toàn cầu hóa ở mức độ cao – ở hai đầu của địa cầu được nối kết với nhau trong một quan hệ thương mại không mấy cân xứng.

Tiếp tục đọc

Doanh nghiệp nhà nước ở đâu trong cơn sốt gạo?

(TBKTSG Online) – Trong cơn sốt gạo vừa qua, những doanh nghiệp nhà nước (DNNN) – những đơn vị mà lẽ ra phải ra tay bình ổn thị trường, thì phải chờ đến khi bị “lệnh” mới chịu làm. Có doanh nghiệp còn từ chối với lý do gạo để dành cho… xuất khẩu.

Sở Thương mại TPHCM trong tuần này sẽ có báo cáo gửi chính quyền thành phố toàn bộ tình hình cơn sốt gạo vào cuối tháng 4. Trong đó, sở đề nghị UBND TPHCM khen thưởng các doanh nghiệp đã tích cực tham gia điều tiết thị trường. Nhưng điều đáng nói là các doanh nghiệp này đều không phải là doanh nghiệp nhà nước vốn lâu nay được yêu cầu phải đi tiên phong trong những lúc thị trường gặp bất ổn.

Tiếp tục đọc

Google – câu chuyện thần kỳ (Phần 6)

TT – Sergey Brin và Larry Page đã trì hoãn việc cổ phần hóa Google đến mức có thể nhưng thời hạn chót vào cuối tháng 4-2004 đang đến gần. Vì những lợi ích của việc duy trì tư cách một công ty tư nhân là rất lớn nên họ không muốn từ bỏ những lợi ích đang có trong tay.


Larry Page (giữa) rung chuông khai trương phiên giao dịch chứng khoán NASDAQ khi cổ phần hóa – Ảnh tư liệu

Làm những điều không ai dám làm

Điều bất lợi nhất khi Google thực hiện cổ phần hóa là các đối thủ Microsoft và Yahoo! có thể biết tất cả về lợi nhuận cũng như tình hình hoạt động của Google. Một khi các thông tin được công bố rộng rãi thì sự cạnh tranh sẽ càng mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, luật liên bang yêu cầu các công ty có tài sản lớn và có nhiều cổ đông, các tiêu chí này Google có quá đủ, phải công khai các kết quả tài chính.

Dù không muốn nhưng Brin và Page đều biết rõ họ đang đi những bước đầu tiên trong quá trình cổ phần hóa không thể tránh khỏi khi họ nhận 25 triệu USD của Kleiner Perkins và Sequoia Capital.

Mặc dù Google hoàn toàn có thể huy động thêm tiền mặt thông qua việc cổ phần hóa để tăng trưởng công ty và để dự phòng việc chạy đua không tránh khỏi với Microsoft, nhưng công ty cũng đã có đủ số tiền cần thiết. Đối với hầu hết các nhà kinh doanh ở thung lũng Silicon, phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO) là một ước mơ lớn, vì là dịp để họ phô bày và đo giá trị theo kiểu Mỹ: tính bằng USD.

Nhưng Brin và Page thì hoàn toàn không giống như vậy. Cả Brin lẫn Page đều không cần hàng tỉ USD mà họ có thể bỏ vào túi của mình khi thực hiện cổ phần hóa Google vì cả hai người đều sống tương đối đơn giản. Họ cũng không quan tâm nhiều tới việc tích lũy của cải và không coi đó là một phương tiện đo thành công. Lý do duy nhất để những nhà lãnh đạo Google muốn phát hành cổ phiếu là vì họ muốn có nhiều nguồn lực hơn để thúc đẩy Google tăng trưởng, và quan trọng hơn là họ đã ý thức được nhiệm vụ của họ với Google.

Các công ty lớn ở Phố Wall nắm quyền kiểm soát toàn bộ tiến trình phát hành cổ phiếu lần đầu. Họ ấn định mức giá cổ phiếu ban đầu, quyết định nhà đầu tư nào sẽ được mua cổ phiếu và đổi lại họ sẽ nhận được một mức phí rất cao. Brin và Page không muốn dính dáng tới hệ thống tồi tệ này.

Bảng điện tử bên ngoài Sở Giao dịch chứng khoán NASDAQ ở New York chào đón Google vào ngày 19-8-2004 – Ảnh tư liệu

Trong đơn đăng ký phát hành cổ phiếu với Ủy ban Giao dịch chứng khoán, Google đã đưa ra một phương pháp phát hành cổ phiếu hoàn toàn khác, vì phương pháp này được thực hiện dựa trên nguyên tắc quân bình. Điều này có nghĩa là bất cứ ai cũng có thể tham gia mua cổ phiếu của nó. Phương pháp mới của Google sẽ không bị Phố Wall ép giá.

Trong lịch sử của Phố Wall, chưa có một công ty nào thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu với số tiền lên tới hàng tỉ USD có thể thành công nếu làm theo cách của Brin và Page. Tuy nhiên, điều này không làm họ e ngại, vì cả hai đã quen với việc muốn và làm những điều không ai dám làm, họ quyết tâm tạo một lối đi mới cho phát hành cổ phiếu lần đầu bằng cách riêng của họ. Họ sẽ tự bàn bạc với nhau để đưa ra những quyết định mà họ cho là đúng đắn. Nếu có ai ở Phố Wall không thích cách làm của họ thì họ cũng không bận tâm.

Google sẽ định giá và bán cổ phiếu của nó dựa trên kết quả bỏ thầu trực tuyến của các nhà đầu tư tiềm năng. Tất cả những người đưa ra mức giá bằng hoặc hơn mức giá qui định công khai sẽ mua được cổ phiếu. Những ai trả thấp hơn mức giá đó thì không được mua. Các nhà đầu tư lớn cũng như những nhà đầu tư nhỏ đều được phép mua cổ phiếu thông qua một hình thức giống nhau.

Như vậy sẽ không xảy ra tình trạng thiên vị, không có chuyện ưu ái cho bạn bè hay gia đình thân quen. Kể cả những người mới bước vào nghề – những người có ít tiền hoặc những người thường bị Phố Wall không để ý tới – đều có thể tham gia phiên đấu giá, miễn họ có đủ tiền để mua ít nhất năm cổ phiếu. Như vậy, hàng triệu người sử dụng Google ở Mỹ chưa từng tham gia mua cổ phiếu công cộng bao giờ thì nay lần đầu tiên có thể tham gia mua một số cổ phiếu. Brin và Page trước đây còn lưỡng lự về việc cổ phần hóa công ty nhưng giờ họ đã quyết định sẽ cổ phần hóa và làm theo phương pháp quân bình tới mức có thể.

Tỉ phú tuổi 31

Brin và Page không hài lòng khi chứng kiến sự độc quyền ở Phố Wall về vấn đề thu phí. Tất cả các công ty đều phải trả một mức phí cao giống như nhau để nhờ Phố Wall làm môi giới trong qui trình thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu bất kể vụ mua bán diễn ra dễ dàng, khó khăn hay kể cả những vụ mua bán diễn ra thường xuyên.

Các công ty nhờ đến nhà môi giới Phố Wall đều phải trả mức phí 7%, như vậy trong một đợt phát hành cổ phiếu trị giá 2 tỉ USD thì Phố Wall sẽ thu được 140 triệu USD tiền phí. Brin và Page thấy điều này thật phi lý, đặc biệt nó không phù hợp với những loại cổ phiếu đáng giá của Google.

Trong khi hầu hết công ty khác chỉ công bố về tình hình tài chính và các thủ tục pháp lý theo tiêu chuẩn trong hồ sơ gửi Sở Giao dịch chứng khoán thì các nhà lãnh đạo của Google lại muốn thu hút sự chú ý của thế giới bằng một bức thư nói về văn hóa công ty và cả về cách nhìn của nó với thế giới bên ngoài. Brin và Page nhắc đi nhắc lại trong bức thư rằng sau khi Google trở thành công ty cổ phần, họ vẫn luôn có ý định áp dụng những cái họ đã làm thành công khi Google còn là công ty tư nhân.

Ví dụ, họ sẽ không phụ thuộc Phố Wall để tìm kiếm lợi nhuận theo từng quí mà sẽ làm bất cứ điều gì họ nghĩ sẽ tốt cho Google về lâu dài. Họ nói nhà quản lý mà bị phân tán bởi những mục tiêu ngắn hạn thì đó là nhà quản lý bất tài. Họ chẳng khác gì những người ăn kiêng cứ nửa giờ lại đứng lên bàn cân một lần. Họ dẫn lời tỉ phú Warren Buffett: “Chúng ta không mờ mắt với kết quả hằng quí hay hằng năm: Nếu công ty không có được lợi nhuận ổn định thì bạn cũng không thể có được lợi nhuận ổn định”.

Trong bức thư, những người sáng lập đã thông báo kế hoạch của Google sẽ phát hành hai loại cổ phiếu: cổ phiếu hạng A cho các nhà đầu tư phổ thông, mỗi cổ phiếu sẽ được một phiếu bầu và cổ phiếu hạng B dành cho những người lãnh đạo của Google, mỗi cổ phiếu được 10 phiếu bầu và cho họ toàn quyền kiểm soát. Cấu trúc cổ phiếu kép này không cho các nhà đầu tư bên ngoài gây ảnh hưởng tới công việc quản lý của công ty và nếu người lãnh đạo không đồng ý thì chẳng ai có thể giành được quyền tiếp quản công ty. Đây là cách lý tưởng để các nhà lãnh đạo Google vẫn giữ được quyền kiểm soát khi Google huy động hàng tỉ USD bằng việc cổ phần hóa.

Cuối cùng, đợt phát hành cổ phiếu lần đầu của Google đã bán ra cổ phiếu với giá 85 USD tại Sở Giao dịch chứng khoán các công ty công nghệ cao NASDAQ vào ngày 19-8-2004. Vào lúc 9g30 sáng khi thị trường mở cửa, 19,6 triệu cổ phiếu không thể bán được vì cầu vượt quá cung. Đợt bán này công ty đã huy động được 1,67 tỉ USD và ban đầu công ty có được giá thị trường là 23,1 tỉ USD.

Các công ty Phố Wall cùng tham gia điều khiển vụ mua bán là Credit Suisse First Boston và Morgan Stanley chỉ nhận được ít hơn một nửa mức phí so với bình thường. Quá trình mua bán cổ phiếu kiểu mới này đã đạt được hai mục đích: thứ nhất là Google chứ không phải Phố Wall nắm quyền phân bổ cổ phiếu công bằng dựa trên giá bỏ thầu của các nhà đầu tư; thứ hai là phương pháp phân bổ bình quân này tránh được những vụ bê bối mà Phố Wall đã tạo ra trong những năm gần đây, đó là việc chỉ dành lợi thế cho một số ít người.

Vào hôm Google phát hành cổ phiếu lần đầu, tờ Newsweek viết: “Đợt phát hành cổ phiếu được chờ đón nhất trong thế kỷ đã diễn ra”. Hôm đó, Brin vẫn đến làm việc ở trụ sở Google. Đây là dấu hiệu cho thấy lúc nào công ty cũng vẫn luôn tập trung tới công việc hằng ngày.

Mặc dù trên giấy tờ thì chính ngay buổi sáng hôm đó Page đã trở thành một tỉ phú nhưng anh dường như không quan tâm lắm tới điều đó. Tạp chí GQ tiết lộ khi Page chủ trì buổi khai trương phiên giao dịch chứng khoán khi Google cổ phần hóa, anh trông không thoải mái với chiếc áo khoác và chiếc cà vạt của mình, anh ngồi vào cả một chỗ dính đầy kem và làm bẩn cả mông quần.

Họ chỉ mới 31 tuổi!

DAVID VISE và MARK MALSEED
(Khánh Chi dịch)

________________________________________

Bạn có tin không: một cú nhấp chuột của bạn vào đường dẫn quảng cáo của Google sẽ mang lại cho công ty này 50 xu. Thế nhưng như Page nói: “Chúng tôi không nhất thiết phải kiếm tiền từ những gì chúng tôi không có”.

Google – câu chuyện thần kỳ

Đó là câu chuyện về sự thành công thật sự kỳ lạ của hai chàng trai trẻ Larry Page và Sergey Brin – những người sáng lập Google. Chỉ với khối óc của mình, trong vỏn vẹn sáu năm họ đã trở thành tỉ phú.

Thành công của Google là thành công kỳ diệu của những ý tưởng và sự sáng tạo. “Hãy quan tâm tới điều không thể, hãy thử làm những gì mà hầu hết mọi người chưa nghĩ tới” – phương châm đó của những người sáng lập Google đã đưa ra những định hướng tương lai của Google: góp phần biến đổi thế giới.

Google – Kỳ 1: Quan tâm tới điều không thể

Larry Page và Sergey Brin: “Bạn nên thử làm những gì mà hầu hết mọi người chưa nghĩ tới” – Ảnh tư liệu
TT – Larry Page và Sergey Brin bước vào hội trường trong tiếng hò reo hứng khởi của những thanh niên mới lớn thường làm khi chào đón những ngôi sao nhạc rock. Ăn mặc giản dị, họ ngồi xuống và cười rất tươi. “Các bạn có biết câu chuyện của Google không? Các bạn có muốn tôi kể cho các bạn nghe không?” – Page hỏi. “Có” – đám đông hô lớn.

Mồ hôi và nước mắt chiếm 99%

 Đó là vào tháng 9-2003, hàng trăm sinh viên và cán bộ giảng dạy ở một trường cấp III Israel đã tham dự để được nghe những bộ óc toán học siêu việt, những nhà phát minh trẻ tuổi nói chuyện.


Larry Page và Sergey Brin: “Bạn nên thử làm những gì mà hầu hết mọi người chưa nghĩ tới” – Ảnh tư liệu

Rất nhiều người trong số họ giống Brin, vì họ cũng xa rời gia đình mình ở Nga để tìm tới nước Mỹ. Và họ thấy ở Page lòng nhiệt tình từ khi Page tham gia bộ đôi tạo nên công cụ thông tin mạnh mẽ và dễ sử dụng nhất trong thời đại của họ – một công cụ thay đổi như chớp đã lan truyền trên khắp thế giới. Giống như bọn trẻ chơi bóng rổ và mơ ước trở thành một Michael Jordan, những sinh viên này muốn giống như Sergey Brin và Larry Page một ngày nào đó.

Page mở đầu: “Google được thành lập khi Brin và tôi đang làm tiến sĩ về tin học tại Trường đại học Stanford. Chúng tôi cũng không rõ chính xác mình muốn làm gì. Tôi có mỗi một ý tưởng điên rồ là tải tất cả những gì có trên mạng xuống máy tính của mình. Tôi nói với thầy hướng dẫn của mình rằng việc này chỉ mất một tuần. Tôi đã tải xuống được một phần những gì có trên mạng mất khoảng một năm gì đó”. Tất cả sinh viên đều cười lớn. Page tiếp tục: “Có một thành ngữ tôi học được hồi đại học, đó là hãy quan tâm tới điều không thể. Đó là một thành ngữ hay. Bạn nên thử làm những gì mà hầu hết mọi người chưa nghĩ tới”.

Một máy tính của Google thời đầu. Một phần được làm mô phỏng theo kiểu khối đồ chơi Lego

Trong lịch sử phát minh và tư bản dày cộp của nước Mỹ, chưa có ai thành công nhanh chóng như họ. Thomas Edison phải mất nửa thế kỷ để phát minh ra bóng đèn; Alexander Graham Bell phải tốn rất nhiều năm để phát minh và cải tiến chiếc điện thoại; phải sau hàng chục thập kỷ làm việc miệt mài chăm chỉ, Henry Ford mới tạo ra được dây chuyền lắp ráp hiện đại và biến nó thành nền công nghiệp đại sản xuất và tiêu dùng ôtô; còn Thomas Watson “con” đã phải làm việc rất vất vả nhiều năm cho tới khi IBM cho xuất xưởng chiếc máy tính hiện đại. Nhưng Brin và Page, chỉ trong sáu năm, đã nhận dự án nghiên cứu tốt nghiệp và biến nó trở thành một doanh nghiệp toàn cầu trị giá hàng tỉ USD.

Page tiếp tục kể lại những ngày tháng vinh quang của hai người: “Khi chúng tôi mới gặp nhau, ai cũng nghĩ người kia thật khó chịu. Nhưng sau này chúng tôi vượt qua điều đó và trở thành đôi bạn tốt. Đó là khoảng thời gian cách đây tám năm. Rồi chúng tôi thật sự bắt tay vào làm việc”. Anh nhấn mạnh điểm quan trọng này: dù có ý tưởng nhưng mồ hôi và nước mắt chiếm 99%. Page nói: “Đây là bài học quí giá đối với chúng tôi. Chúng tôi đã làm việc không kể đến ngày nghỉ, quên cả sáng tối. Chúng tôi đã phải làm việc vất vả và nỗ lực rất nhiều”.

Page còn muốn truyền đạt những điều hơn thế: cảm hứng. Page cho biết: “Tôi lớn lên mà không có Internet, hay hình thức hiện tại của nó và mạng toàn cầu. Ngày nay, thế giới đã thay đổi nhiều bởi các bạn đều có điều kiện để thu thập thông tin dù ở bất kỳ chủ đề nào trên thế giới. Và điều này cực kỳ khác biệt so với thời tôi còn đi học”. Brin góp thêm: “Các bạn có rất nhiều thế mạnh mà thế hệ chúng tôi không có. Những điều này sẽ giúp các bạn thành công sớm hơn trong cuộc sống so với chúng tôi”.

Sự nghiệp chỉ mới bắt đầu

Brin và Page kết thúc câu chuyện của họ và ra hiệu cho đám đông sinh viên giờ là lúc đặt câu hỏi. “Các anh có nghĩ Google đã đánh dấu sự nghiệp của các anh không?” – câu hỏi đầu tiên được đặt ra cho Brin và Page. Brin trả lời: “Tôi nghĩ đó là thành tựu nhỏ nhất trên chặng đường chúng tôi hi vọng đạt được trong 20 năm tới. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng nếu Google là thứ duy nhất chúng tôi tạo ra được thì tôi cũng không lấy làm thất vọng lắm”. Page lại nghĩ khác: “Tôi thì lại rất thất vọng bởi sự nghiệp của chúng tôi vừa chỉ mới bắt đầu”.

Brin giải thích: “Chúng tôi điều hành Google hơi giống điều hành một trường đại học. Chúng tôi có rất nhiều dự án, khoảng hơn 100 cái. Chúng tôi làm rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Cách duy nhất dẫn bạn tới thành công là đầu tiên hãy hứng chịu thất bại”. Đám đông sinh viên vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt. Ý tưởng cuối cùng sẽ thành công sau khi nếm mùi thất bại và tinh thần không sợ thất bại, ngay lập tức được sinh viên ủng hộ.

Một sinh viên khác lại hỏi về những dự án mới của Google. Brin nói theo kiểu đùa: “Chúng tôi thấy ngượng khi nói về những dự án mới của chúng tôi. Có một người Israel. Yossi (Vardi, người phát minh tin nhắn nhanh) có một người bạn sản xuất quần lót, quần lót của Hãng Calvin Klein.

Do đó chúng tôi đang thử xem liệu chúng tôi có thể hợp tác để làm ra chiếc quần lót hiệu Google không”. Anh hỏi: “Nếu Google sản xuất quần lót, ai sẽ mua nó?”. Các cánh tay giơ lên. Brin tiếp thêm: “Đó là một trong những dự án ít liên quan tới vấn đề kỹ thuật nhất mà chúng tôi đang thực hiện”.

Từ đây nảy sinh ngay một câu hỏi khác: Vậy Google kiếm tiền từ đâu? Page trả lời: “Mỗi kết quả tìm kiếm, dù ít hay nhiều, đều phải trả tiền cho Google, chủ yếu là thông qua quảng cáo. Người ta trả tiền cho quảng cáo. Chúng tôi rất may mắn là đã chọn làm kiểu liên quan tới quảng cáo thay vì cho chạy banner quảng cáo. Điều này giúp chúng tôi có được công cụ tìm kiếm tốt nhất. Chúng tôi kiếm lợi nhuận do các công ty khác trả tiền, ví dụ như AOL, do sử dụng công cụ tìm kiếm của chúng tôi”.

Một sinh viên khác hỏi về sự cạnh tranh của Google. Page trả lời: “Bắt đầu, Google phải cạnh tranh với Excite, Alta Vista và các trang web khác. Những trang web này không chỉ tập trung mỗi vào công cụ tìm kiếm, do đó chúng tôi không bị nảy sinh nhiều vấn đề như họ. Ngày nay, chúng tôi phải đương đầu với nhiều cạnh tranh và thử thách hơn.

Chúng tôi có hơn 1.000 nhân viên làm việc tại Google. Chúng tôi đang chuẩn bị mở văn phòng trên toàn thế giới. Đó là một phần lý do tại sao chúng tôi đi vòng quanh thế giới. Đây quả là một thử thách thật sự đối với chúng tôi. Việc khó khăn nhất là chúng tôi có thể đạt được điều này trong dài hạn, trở thành một công ty có tuổi đời 10-20 năm, hoặc chúng tôi sẽ bị thôn tính”.

Page nói tiếp: “Phát minh ra thứ gì đó và có một ý tưởng lớn là một khối lượng công việc lớn. Nhưng đó chưa đủ. Bạn phải để cả thế giới biết đến nó. Tại Google, chúng tôi kết hợp các khả năng khoa học, toán học, tin học và cả kỹ năng làm cho nhân viên hăng say làm việc”.

Năm đó, Page và Brin chỉ mới 30 tuổi!

DAVID VISE và MARK MALSEED
(Khánh Chi dịch)

_______________________________

Công ty Google ra đời từ một ý tưởng có vẻ ngớ ngẩn hơn là táo bạo: tải toàn bộ các trang web toàn cầu xuống máy tính của mình. Ý tưởng đó lại xuất phát từ một ý tưởng khác “điên khùng” hơn: nếu họ thấy thế giới đang đi theo một hướng thì họ tin rằng phải có con đường khác.

_______________________________

Google – câu chuyện thần kỳ của David Vise và Mark Malseed (Mỹ), bản quyền tiếng Việt của Công ty AlphaBooks, NXB Tri Thức sắp xuất bản.

Thanh toán thương mại điện tử: Tiền mặt vẫn là chủ yếu

Ông Đỗ Như Đính, Thứ trưởng Bộ Thương mại khẳng định: “Tiện ích lớn nhất của việc ứng dụng thanh toán thương mại điện tử là giúp cho các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, tiếp thị, giảm chi phí giao dịch, mở rộng và củng cố mối quan hệ với các đối tác trong và ngoài nước…”.

Bà Lại Việt Anh, Trưởng phòng Chính sách, Vụ Thương mại điện tử (Bộ Thương mại) cho biết, theo ước tính, hiện có khoảng 20 – 25% doanh nghiệp Việt Nam có website riêng.

Tỷ lệ này được tính trên các doanh nghiệp thực sự đang tồn tại và hoạt động nghiêm túc. Đây là con số khá khả quan và đạt được mức độ khá sơ đẳng về ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp.

Hạ tầng công nghệ thông tin tạm đủ

Tuy nhiên, khi nhìn sâu hơn vào hàm lượng thương mại điện tử thì trình độ ứng dụng thương mại điện tử trên website vẫn còn có một số vấn đề cần quan tâm.

Kết quả điều tra 1.000 doanh nghiệp được tiến hành trong năm 2006 cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp có website là 25,4%. Tuy nhiên, tính năng thương mại điện tử của các website này rất khác nhau, website thực sự có giao dịch tương tác với thương mại điện tử (ở mức độ cho phép người tiêu dùng, đối tác có thể đặt hàng trực tuyến) chỉ chiếm khoảng 27,4 %. Còn website tích hợp tính năng thanh toán trực tuyến còn thấp hơn, với tỷ lệ 3,2%.

Cũng theo cuộc điều tra, với câu hỏi về các trở ngại hiện nay đối với việc triển khai ứng dụng thương mại điện tử theo mức thang điểm từ 0 – 4 (từ không có trở ngại nào đến mức trở ngại cao nhất), tổng hợp kết quả điều tra thấy rằng hệ thống thanh toán điện tử hiện nay đang đứng thứ 2 (với thang điểm bình quân là 3,19) trong những sự trở ngại về ứng dụng thương mại điện tử vào doanh nghiệp.

Kết quả này chỉ sau một chút so với trở ngại về nhận thức của người dân, của doanh nghiệp và xã hội (thang điểm 3,23) và còn xếp trên cả những trở ngại như vấn đề an ninh trong giao dịch (thang điểm 2,78), môi trường pháp lý chưa hoàn thiện (thang điểm 2,64), tập quán kinh doanh chưa tương thích…

Cùng với môi trường pháp lý, hạ tầng về công nghệ thông tin và yếu tố con người bao gồm cả nhận thức và kỹ năng của người lao động, thì hệ thống thanh toán và dịch vụ hỗ trợ là một trong 4 trụ cột của thương mại điện tử.

Kinh nghiệm thế giới cho thấy, các nước có nền thương mại điện tử tiên tiến như Bắc Mỹ, Tây Âu và một số nước châu Á như Singapore, Hàn Quốc đều là những nước, khu vực có hệ thống thanh toán tương đối hoàn chỉnh.

Ở Việt Nam hiện nay, với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp điện tử và Nghị định về thương mại điện tử có thể thấy khung pháp lý về thương mại điện tử đã cơ bản được hình thành. Hạ tầng công nghệ thông tin của chúng ta mặc dù chưa bằng được với các nước tiên tiến trên thế giới. nhưng cũng có thể coi là đủ để tiến hành thanh toán thương mại điện tử.

Cùng với vai trò của các phương tiện truyền thông, sức ép của hội nhập, người tiêu dùng cũng như các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của thương mại điện tử như là một phương thức kinh doanh tiên tiến, hiệu quả cao và chi phí thấp.

Áp dụng ba phương thức thanh toán

Trên thực tế, các doanh nghiệp rất năng động trong việc cung cấp cho khách hàng khá nhiều lựa chọn thanh toán, phương thức thanh toán được áp dụng cao nhất hiện nay vẫn rất thủ công theo phương thức giao dịch B2C là tiền mặt – giao hàng.

Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng tận dụng một số phương pháp khác như mở tài khoản ở các ngân hàng nước ngoài để có thể nhận được tiền trả bằng thẻ tín dụng, chuyển khoản qua ngân hàng, gửi tiền qua bưu điện hoặc phát hành thẻ trả trước để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng.

Theo Vụ Thương mại điện tử, dựa trên những phương thức giao dịch thương mại điện tử hỗ trợ và tạm thời bỏ qua phương thức trao đổi dữ liệu tài chính điện tử (B2B payment) vì phương thức này đòi hỏi trình độ công nghệ thông tin rất cao của các đối tác, các doanh nghiệp tham gia mà hiện thời chúng ta chưa có đủ điều kiện để triển khai, theo đó, có 3 phương thức chính mà ở Việt Nam có nhu cầu ứng dụng.

Ở mức tương đối thấp là phương thức thanh toán điện tử tại các điểm bán hàng và dịch vụ truyền thống bằng cách sử dụng thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, thẻ nạp tiền trước…

Cao hơn một chút là phương thức thanh toán trên môi trường Internet. Loại hình thanh toán này có thể thực hiện tại website dịch vụ của ngân hàng còn gọi là dịch vụ eBanking, hoặc được tiến hành tại website của những doanh nghiệp cung cấp hàng hoá và dịch vụ hoặc được tiến hành qua website trung gian của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thanh toán.

Cả 3 cách thức này đều đòi hỏi vai trò trung tâm của ngân hàng trong việc cung cấp những dịch vụ ngân hàng trực tuyến hoặc những thẻ ngân hàng có sự kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp, với người tiêu dùng cũng như những đối tượng mua hàng để có thể thực hiện thanh toán.

Ở mức độ cao hơn nữa và có thể trở thành một xu thế của tương lai, đó là phương thức thanh toán qua thiết bị di động bao gồm điện thoại di động và những thiết bị cầm tay di động khác.

Hiện nay, các ngân hàng vẫn giữ vai trò trung tâm trong tất cả các hệ thống thanh toán có hỗ trợ thương mại điện tử, được thể hiện trên 2 khía cạnh.

Thứ nhất, ngân hàng tạo điều kiện cho người tiêu dùng có thể sử dụng thẻ thanh toán như một công cụ thanh toán đa năng để phục vụ cho nhu cầu giao dịch thương mại điện tử (B2C). Thứ hai là vai trò cung cấp các tiện ích, các dịch vụ thanh toán điện tử để cho doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng có thể sử dụng tài khoản ở ngân hàng để phục vụ cho các nhu cầu thanh toán B2C, B2B, C2C.

Khẳng định vai trò của các ngân hàng

Theo số liệu thống kê của Visa, trong 12 tháng (từ tháng 6/2004 – 6/2005), có 34.000 giao dịch thương mại điện tử được thực hiện thông qua các thẻ VISA phát hành tại Việt Nam với trị giá giao dịch 5,7 triệu USD.

Tuy nhiên, tất cả các giao dịch này đều được trả cho các website bán hàng nước ngoài, đồng nghĩa với việc tất cả số tiền trên đều được chuyển vào các tài khoản mở tại những ngân hàng nước ngoài.

Hiện nay, các ngân hàng đã bắt đầu triển khai dịch vụ tiện ích xuất phát từ giao dịch thương mại điện tử như Internet banking (Vietcombank, Techcombank, Ngân hàng Quân đội, Ngân hàng Hàng hải, BIDV, ACB, AEB, VIBank…) và Mobile banking (AEB, ACB, VIBank, Ngân hàng Quân đội).

Thế nhưng, để phát triển dịch vụ này đòi hỏi các ngân hàng phải đầu tư rất lớn nên nhiều ngân hàng mới chỉ hoạt động ở mức độ thử nghiệm, mức độ triển khai mới chỉ dừng lại ở dịch vụ tra cứu thông tin, hỏi tin tức còn những dịch vụ thật sự để hỗ trợ cho giao dịch thanh toán thương mại điện tử hoặc chuyển khoản tại website ngân hàng còn rất hạn chế, và việc thanh toán qua điện thoại di động sử dụng tài khoản ngân hàng vẫn chưa ứng dụng được.

Với thực trạng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện nay, để triển khai dịch vụ Internet banking và Mobile banking vẫn chưa thực sự thuận tiện. Các doanh nghiệp muốn thực hiện giao dịch với đối tác, khách hàng thông qua 2 dịch vụ tiện ích này đòi hỏi doanh nghiệp phải trang bị phần mềm, hệ thống an ninh bảo mật thông tin…

Để khắc phục những hạn chế này, trên thế giới đã xuất hiện phương thức thanh toán tại các website trung gian của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thanh toán nhưng hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa xuất hiện hình thức thanh toán này.

Để khắc phục hạn chế phần nào vai trò của các ngân hàng, rất nhiều doanh nghiệp cũng đã sáng tạo ra một số phương thức thanh toán như sử dụng tài khoản dịch vụ di động được khấu trừ ngay thông qua các nhà cung cấp dịch vụ thương mại di động Mobifone, Vinaphone, CdiT, VASC.

Tuy nhiên, những khoản thanh toán này có giá trị rất nhỏ và nó lại đòi hỏi phải có sự liên kết giữa nhà cung cấp dịch vụ với những nhà cung cấp dịch vụ di động. Vì thế, phương thức này không áp dụng được phổ quát nên thực tế tiến hành giao dịch thương mại điện tử là rất khó.

Ngoài ra, một số nhà cung cấp dịch vụ bắt đầu sử dụng tài khoản trả trước để người tiêu dùng có thể sử dụng thiết bị cầm tay truy cập, chọn mua sản phẩm và thanh toán bằng cách khấu trừ (chẳng hạn như mô hình liên kết giữa Công ty QT Minh Việt với ACB, Vinaphone và eMobile).

Đặng Nguyễn